Friday, 21 September 2007

tragic hero?

Có một bức thư của thầy today20 được cô ấy đăng trên blog và Linh đăng lại. Cái thư đó bắt đầu bằng một câu hỏi (“I’m curious what Vietnamese think about “evil”.) và chấm dứt bằng một câu hỏi (“Does Vietnamese have anything like the concept of a tragic hero?”).

Tôi nghĩ tới câu hỏi sau nhiều hơn câu trước. Tôi muốn viết gì đó về một nhân vật bi hùng của người Việt vào ô comment nhưng lạ thay, tôi không tìm được ai. Tôi không có câu trả lời, dù câu hỏi có vẻ rất dễ. Sau một lúc loay hoay tìm kiếm, câu trả lời của tôi cũng giống của Linh là: Việt Nam chỉ có tragic heroine, chứ không có tragic hero. Hầu như mọi nỗi buồn đều chất lên vai người phụ nữ, và họ chỉ trở thành người hùng sau khi đã chịu mọi điều oan khuất; sự hy sinh là đức hạnh đầu tiên, không có nó thì không có gì khác đáng nói. Khác với công thức người hùng của Hy Lạp, cuộc đời của Thúy Kiều và Thị Kính không bước vào ngã rẽ bi thảm sau một lỗi lầm hay nhầm lẫn của chính họ. Vì vậy, sự oan khuất là điều tuyệt đối.

Trong khi với một người phụ nữ sự hy sinh là đức hạnh lớn nhất, thì với một nam nhi nó có thể là một điều cho thấy sự kém cõi. Đàn ông khi cần chỉ nên hy sinh cho tổ quốc hay lý tưởng chứ không nên hy sinh vì mẹ hay vợ, như Thúy Kiều và Thị Kính đã hy sinh vì cha và chồng. Hy sinh cho người khác, tức là đặt tầm quan trọng của mình thấp hơn họ. Nam nhi không thể chấp nhận điều đó.

Đàn ông có thể hy sinh cho tổ quốc hoặc lý tưởng. Nhưng đó là những thứ trừu tượng, quá trừu tượng để thi ca có thể dựng nên tác phẩm về họ. Cái chết viên dũng tướng trên lưng ngựa thuộc về lịch sử, nỗi đợi chờ của người vợ mới thuộc về thi ca. Chúng ta học sử ở trường, sau thời cổ sử thì không còn một người phụ nữ nào nữa. Còn trong các tác phẩm thi ca lớn, rất vắng đàn ông (Kiều, Chinh phụ ngâm, Cung oán).

Hay chính vì đàn ông từ chối làm một tragic hero, nên cũng không có hero là đàn ông. Ít ra là trong thi ca. Bởi vì, hình như, bi và hùng định nghĩa lẫn nhau. Không có cái chết, nỗi buồn, sự oan khuất, trăm cay nghìn đắng hay banh ngực dâng tim, người ta không biết lấy gì vẽ nên hình bóng một người hùng. Và rồi, nền văn hóa của chúng ta cũng không cần phải có họ.

x

Niềm tin Thiên chúa giáo ngay từ thuở ban đầu đã gặp mâu thuẫn với quan niệm về cái đẹp và bi kịch của Hy Lạp. Điều quan trọng nhất của Thiên chúa giáo là tự do của ý chí. Tự do chọn lựa giữa cái tốt và cái xấu. Khi cái tốt và xấu đã được định nghĩa rõ rệt rồi (bởi người khác), thì tự do chẳng còn mấy ý nghĩa. Nên nhiều người sẽ bỏ bớt chữ free trong hai chữ free will. Nhưng dù free will hay will, người ta có sự chọn lựa, có ý chí, và chính ý chí này sẽ quyết định định mệnh của một người. Trong quan niệm về bi kịch Hy Lạp, sự chọn lựa chỉ định nghĩa được phẩm chất của nhân vật, chứ không quyết định được kết cục của câu chuyện. Định mệnh nằm trong tay thần thánh. Nhưng biết đâu, nhiều năm về sau, người ta được nhớ tới qua phẩm chất của mình ngay trong trung tâm cơn bão, chứ không phải qua kết cục của câu chuyện, rằng sau mọi khó khăn anh có được vua gả công chúa và ban thưởng nhiều vàng bạc hay không.

Nhưng chính Thiên chúa giáo cũng không vẽ nổi hình bóng người hùng mà không cần tới sự bi thảm. Bi kịch là định mệnh, mà Thiên chúa giáo thì không chấp nhận định mệnh. Tất cả sự mâu thuẫn này tự để lộ mình qua cách lịch sử Thiên chúa giáo đối xử với nhân vật Judas.

Judas bán Chúa lấy tiền. Và từ đó về sau, thế giới biết được là cái ác, cái xấu có thật, có thể nhìn thấy, kể lại được chứ không phải chỉ là một ý niệm. Sự ganh tỵ và tham lam khiến người ta làm ác. Sự tham lam được lịch sử ghi chép lại là 30 miếng bạc, bằng tiền để mua một nô lệ, một con số cụ thể, chứ không phải là một ý niệm trừu tượng. Sự ganh tỵ thì khó đo đạc hơn một chút, thôi thì cứ để nó hơi trừu tượng, cũng được.

Nhưng nếu Judas không bán Chúa, thì không có tragic hero chết một cái chết được biết trước trên thập tự, không có sự cứu rỗi, không có Thiên chúa giáo. Chắc chắn Jesus biết điều đó. Từ đó suy ra, như Kazantzakis đã làm trong cuốn Thử thách cuối cùng của Chúa, rằng Jesus đã yêu cầu Judas bán mình, chỉ là một bước ngắn. [Quả thật, điều này đã được xác nhận trong những trang Phúc âm của Judas mới tìm được và dịch ra gần đây, tuy rằng tại sao Jesus yêu cầu như vậy, theo Judas, thì khác với ý của Kazantzakis.]

Thiên chúa giáo không chấp nhận bi kịch Hy Lạp, vì không chấp nhận thần thánh và định mệnh, nhưng cuối cùng tragic vẫn là cách duy nhất định nghĩa một hero, và tragic thực sự luôn luôn là một loại định mệnh, vì nó được biết trước. (Ở đây, định mệnh được thay bằng chữ Ý Chúa, dù tôi cũng hoang mang không biết là ý của Chúa cha hay Chúa con, cũng như tôi vẫn hoang mang không biết hai người này là một hay là hai). Nếu chuyện PHẢI xảy ra như vậy, theo Ý Chúa, thì tại sao lại kết tội Judas?

Phải kết tội Judas, vì nếu không có người phản bội, thì không thực sự có sự bi thảm của một người chết oan ức, gánh lấy mọi cái xấu của thế gian để mà cứu rỗi cái xấu ở trong mọi con người.

Nhưng mà Jesus và Judas, ai chịu nhiều oan ức hơn?

Sau cái chết của Jesus trên thập tự, người ta tin rằng tội lỗi là có thật và sự đau đớn cần thiết để rửa xóa tội lỗi. Suffering trở thành nền tảng của tình yêu nhân loại.

Nhưng biết đâu, Jesus đã chết một cái chết hoàn toàn khác. Chẳng hạn như theo một giả thiết, Judas đã tin vào tiên tri của Cựu ước (không tin định mệnh sao lại tin tiên tri nhỉ), rằng một messiah sẽ cứu dân Do thái khỏi tay người La mã. Thấy Jesus càng ngày càng mờ nhạt và chẳng chịu làm gì để đánh La mã, Judas bèn giao Jesus cho lính La mã để buộc Jesus phải kêu gọi khởi nghĩa. Judas tin (cũng theo cựu ước) rằng Jesus bất tử. Đến lúc thấy Jesus chết, và chết rất đau đớn, thì Judas tự tử vì hối hận.

Hoặc theo Phúc âm của Judas, rằng cả Jesus và Judas đều theo Gnosticism (theo đó, thế giới nào dựa vào vật thể/vật chất đã là dựa vào cái ác) và đã ngộ đạo. Hai người cần làm những việc cuối cần làm trên dương thế, rồi đi về cõi bên kia. Không khác vài nhà sư Phật giáo của ta, giác ngộ rồi, đọc đủ từng ấy kinh kệ rồi, thì lên giàn thiêu để về niết bàn.

Nếu như vậy thì evil không có người đại diện [Jesus là ý chí của Chúa biến thành xương thịt, còn cái ác (ý chí của Satan) biến thành xương thịt thì tên của nó là gì? Banality? ("... the Banality of Evil", Hannah Arendt)], sự cứu rỗi bằng nỗi đau cũng không cần thiết. Biết đâu có một sự thật về Jesus khác với sự thật mà chúng ta được biết, mà nếu nó không bị dấu nhẹm đi, thì văn minh phương Tây đã rất khác.

Saturday, 8 September 2007

Lần thứ nhì

Tiểu thuyết thứ hai, Mưa ở kiếp sau, nhà Văn Học xuất bản, vừa in xong.

Chân thành cám ơn Hồng Hạnh, Triều An, Hoàng Anh, Lan Anh, Hồng Quang, Nhật Linh.

Friday, 7 September 2007

Đêm nghe tiếng em hát

Phòng đợi bến xe đò Đà Lạt – Sài Gòn có nước chè tươi và mứt gừng. Tôi đi chuyến quá nửa đêm một chút. Đêm Đà Lạt không lạnh lắm, nhưng tôi mặc áo khoác, để có hai cái túi to, chôm mứt gừng cho vào túi không thấy cộm. Đây là loại mứt gừng rẻ nhất trong các loại mứt gừng, không làm từ gừng non to củ, mà từ các loại gừng ế chợ, không thể cắt lát đẹp, mà to nhỏ dầy mỏng lung tung. Thường là gừng già đầy xơ, cay, ăn ấm bụng. Tôi thích vậy. Ăn vài miếng, bỏ thêm vài miếng vào túi để dành đi đường. Thấy không ai nói gì, lại chôm thêm vài miếng nữa.

Trên xe, thích nhất là được ngồi chỗ cửa sổ để dựa đầu vào kính xe, cắm hai cái tai nghe của iPod vào hai tai, lơ mơ ngủ. Mỗi lần thức dậy nhìn ra đều không biết mình đang ở đâu, đi đâu, và những cây cỏ hay những căn nhà đóng cửa bên ngoài luôn luôn nhuộm trong một thứ đèn đường rất vàng, rất siêu thực, rất tối, rất nowhere. Và thứ nhạc tôi đang nghe nó sẽ còn lạ lùng hơn. Nó làm cho thời gian mất đi. Không, sai rồi, nó làm cho thời gian không bao giờ mất đi. Khoảnh khắc này sẽ luôn ở lại đâu đó. Thời gian ở trong lồng ngực cùng với hơi thở, vậy mà không có gì trừu tượng như nó. Khi một khoảnh khắc luôn ở lại, tôi không biết là thời gian mất đi hay còn hoài.

Chuyến xe đêm qua tôi thu xếp được chỗ ngồi bên cửa sổ, nhưng không mở được iPod. Đây không phải là lần đầu một cái iPod vô dụng bỏ rơi tôi như một người tình vô dụng tàn nhẫn. Vậy là suốt đêm, suốt chặng đường tôi phải nghe băng nhạc Cô Thắm về làng của anh tài xế phát ra từ cái loa trên đầu. Tôi biết, một lúc nữa thôi, mình sẽ điên. Mứt gừng già đến mấy cũng không làm lòng ấm lại.

Nhưng tôi không điên. Tôi nghe liên miên độ một nghìn một trăm bài. Một bài hát có lời gần như vầy: Em biết anh nghèo nhưng em không chê. Vui tình nghèo duyên thắm mặn nồng. Tôi thấy buồn kinh khủng. Lại một đêm với những ý nghĩ rời rạc nửa đường không đâu vào đâu. Người nghèo thì vẫn còn, nhưng cái “tình nghèo” yên vui hay thơ mộng, tôi không biết nó còn đâu đó hay chăng.

Hoàng Thi Thơ:
Em gái vườn quê. Cuộc đời trong trắng. Dầm mưa dãi nắng mà em biết yêu trăng đẹp ngày rằm.

Phạm Duy:
Ai bảo chăn trâu là khổ. Chăn trâu sướng lắm chứ. Ngồi mình trâu, phất ngọn cờ lau, và miệng hát nghêu ngao.

Cũng có thể những bài thơ đó chưa bao giờ có thật. Trương Tân có dự án “Tuổi thơ xinh đẹp như postcard”. Anh vẽ những tấm postcard, có những đứa trẻ chăn trâu thổi sáo, vui đùa trên cánh đồng gió mát xanh như ngọc. Chiều về chúng bị bố bỏ đói và treo lên đánh, vì trong xóm đang có phong trào thi đua ai đánh con con ngất nhưng mẹ nó không ngất. Các bà mẹ yếu đuối, thấy chồng đánh con tàn ác cứ ngất đi trước khi con mình ngất. Bố phải tìm cách dạy mẹ không được thương hại.

Tuổi thơ tôi biết những người nhà quê vì chiến tranh di cư lên thành phố, sống trong những cái xóm lầm quê lạc chợ, trong những gian nhà quá nhỏ, thắp đèn neon quá sáng và những cái radio mở suốt ngày. Suốt ngày tôi nghe những bài Duyên quê, những tiếng hát Giao Linh hay những anh hề tấu hài cười hệch hệch lẫn trong tiếng người lớn la hét chửi nhau, trẻ con la hét vì bị đánh. Lẫn trong cái nghèo luôn luôn có một thứ uất ức nào đó, ngay cả trong lúc nghe Chế Linh ca.



Rồi trên chuyến xe cơn buồn ngủ đến, tôi nhắm mắt lại. Bao năm đã qua rồi. Không còn là Chế Linh, mà là Phi Nhung gì đó. Vui tình nghèo duyên thắm mặn nồng.

Buồn làm gì, tất cả chỉ vì cái iPod mở không được.

Về đến nhà, mệt, thân thể như được chắp lại từ nhiều mảnh. Mảnh này không biết mảnh kia, mảnh nào cũng rã rời gắng lo cho riêng mình làm sao sống cho qua hết ngày hôm nay.

Ngày mai các mảnh trong người sẽ lại gắn lại với nhau thành một, đời sẽ đẹp và có mứt gừng trong cả hai túi áo.

Thursday, 30 August 2007

Ai lạc lõng, ai kiêu hãnh?


lost
ảnh của Kev de Babe


Một cái chai mang nước sạch đến cho chúng ta uống đang làm ô nhiễm dòng nước sạch của trái đất.

Cái chai nhựa này cần ít nhất 20 năm để tự phân hủy. Hai mươi năm nữa nó sẽ biến mất khỏi dòng nước, sau khi đã để lại một ít chất độc hại.

Dĩ nhiên, tôi có thể trách riêng người nào đó vô ý thức đã ném cái chai xuống nước, có lẽ trong một lần đến đây ngắm dòng suối. Chúng ta lưu dấu bước chân mình trên quê hương mình như vậy sao?

Nhưng trách một người vô hình xong, vấn đề vẫn còn nguyên vẹn. Nếu cái chai này không nằm ở đây, nó sẽ nằm trong một bãi rác thành phố, cũng cần 20 năm để biến khỏi mặt đất, cũng để lại một ít ô nhiễm. Nước ta không có hệ thống tái sinh nhựa. Nếu thỉnh thoảng đi chợ bạn nhận được một cái bao ni lông đùng đục và không thơm tho, bạn nên biết ơn những người nghèo suốt ngày bươi móc trong bãi rác, chịu đựng sự hôi hám để giúp tái sinh một phần nhỏ số nhựa chúng ta ném trên quê hương của mình. Cái chai sẽ biến thành một cái bao ni lông, cái bao ni lông lại biến thành một cái bao ni lông, và khi những cái bao ni lông quá nhỏ vất bừa bãi khắp nơi, thì những người sống về nghề bươi rác cũng không buồn nhặt chúng nữa, vì nhặt suốt đời cũng không bán được bao nhiêu tiền.

Cái chai nhân danh sự tinh khiết của nước, làm ô nhiễm dòng nước của mặt đất. Người giàu càng uống nhiều nước tinh khiết trong chai, người nghèo càng phải uống nhiều nước dơ vì những cái chai của người giàu làm cho dơ. Và cá, chim, cây cỏ, mặt đất, bầu trời, nghĩa là tất cả những thứ chúng ta gọi là quê hương.




pride
ảnh của Kev de Babe


Friday, 24 August 2007

Sẽ có tựa sau

Mục đích của cuộc sống là gì? Là buổi sáng mở cửa (nếu nhà bạn may mắn có cửa, có lẽ đó là một tảng đá hình tròn, rất nặng, mà bạn hì hục đẩy nó nhích sang một chút để có chỗ bước qua) đi ra ngoài, kiếm chút gì ăn, và buổi chiều tối trở về trong tình trạng chưa chết. Tạm như thế đã.

Trong lúc bạn kiếm gì ăn (để không chết), thì có một số “nhân vật” khác cũng làm như vậy. Con sư tử chẳng hạn. Tác dụng phụ của việc nó có gì ăn (để không chết) là bạn chết. Đó là điều bạn không muốn, nên nếu gặp nó, bạn sẽ bỏ chạy.

Làm thế nào để biết “nhân vật” mình gặp là một con sư tử? Tưởng tượng bạn có một chiếc xe di chuyển được trong chiều thứ tư, tức là chiều thời gian. Bạn sang số tới, đi đến thế kỷ 20 để tìm bài luận văn tả con sư tử của một cô bé học lớp 8 cô giáo bảo viết sau khi lớp đi dã ngoại sở thú về.

Cô bé tả con sư tử cái đầu thế này, mắt, mũi, râu thế này, hai chân trước thế này, hai chân sau thế này, bộ lông thế này. Còn nữa, khá dài. Cô phải tả cẩn thận, không thì bạn gặp một con hà mã lại tưởng đó là con sư tử co giò chạy thì mệt vô ích (vì con hà mã không lưu thông tin về bạn trong danh sách thực đơn today’s specials của nó).

Bạn đã đọc kỹ bài luận văn của cô học sinh. Bây giờ bạn biết một con sư tử nó như thế nào. Nếu gặp một con gì đó to to và có bốn chân, bạn sẽ ngắm nó, so các đặc điểm của nó với những gì cô bé kia đã viết, thế là bạn nhận ra a, đây là con sư tử. Và bạn co giò chạy.

À quên, bạn không co giò chạy, vì con sư tử đã vồ bạn mất rồi. Thế là chiều tối bạn không trở về nhà trong tình trạng chưa chết.

Kiếp sau. Rồi kiếp sau nữa. Rồi kiếp sau nữa. Nửa triệu năm sau.

Bây giờ bạn khôn hơn một chút. Khi gặp một con sư tử, bạn không đứng ngắm nó lâu để ghi nhận đầy đủ thông tin về nó, biết à, đây chắc chắn là một con sư tử, rồi mới bỏ chạy. Bạn nhận ra nó thật nhanh qua một trong số những dấu hiệu cho bạn biết đó là con sư tử, thế là bạn chạy. Nếu không biết cách hiểu những dấu hiệu, bạn khó chiều tối trở về nhà trong tình trạng chưa chết.

Không những hiểu những dấu hiệu báo cho bạn biết có một con sư tử có thể vồ bạn, bạn cũng hiểu những dấu hiệu báo cho bạn biết một có một con nai, hoặc con cá bạn có thể vồ. Còn nhiều nữa, hầu như bất cứ thứ gì, con gì, người nào, bạn thù, bạn cũng nhận ra ngay sau một cái chớp mắt.

Buồn ngủ quá, mai viết tiếp.

Wednesday, 22 August 2007

Blogger Việt cần có qui tắc ứng xử

- Bạn có thể ném cà chua vào màn hình của MÌNH khi đang xem blog của người KHÁC, nhưng bạn không được ném đá cục, vì những lý do dễ hiểu.

- Còn nếu bạn muốn ném đá vào màn hình của MÌNH khi đang xem blog của chính MÌNH thì không có qui định nào cho biết nên hay là không nên. Đây là chuyện riêng của bạn, và privacy là chuyện rất được tôn trọng trong quan hệ giữa các bloggers.

- Giáo sư ngành meta-ethics viện đại học Hamburg, Prof. Erich Steinwerfer cho rằng bạn không được ngáp khi xem blog của người khác, ngay cả khi trong phòng chỉ có một mình bạn và cái laptop. Một số đồng nghiệp yêu cầu không nêu tên của ông ở một faculty khác cho rằng tất cả các giáo sư ngành Khoa học Xã hội vì thiếu tiếp xúc với xã hội đã đưa ra những tiêu chuẩn đạo đức vượt quá khả năng thực hiện của con người nói chung, và giống người có tên là bloggers nói riêng.

Monday, 20 August 2007

Không tựa

Mấy hôm nay đọc bài của các bạn trong danh sách friends & favorites. Nhận ra có bao nhiêu người tài, và nhiều người yêu người nữa. Mà ai cũng trẻ hơn mình.


Thế giới sẽ dần tốt đẹp hơn. Thấy vui, cảm động, lẫn chút ngậm ngùi.

Ngậm ngùi cho thế hệ của mình, mà có người gọi là "thế hệ vàng". Tôi chẳng thấy vàng kim gì cả, chỉ thấy một thế hệ lỡ dở trong tất cả mọi chuyện.

Những người sinh cùng năm, học cùng trường với tôi, thời trung học/đầu đại học đã sống qua những năm cuối của chiến tranh, phần lớn đi nước ngoài, phần lớn lở dở chuyện học hành, chuyện lý tưởng, không biết mình thuộc về đâu, mơ hồ về văn hóa, về quê hương. Bất đồng về giá trị, về chính trị làm tan hoang nhiều tình bạn mà khi tuổi trẻ qua rồi không gầy lại được nữa.

Một thế hệ không có bạn để kể câu chuyện của mình. Hoặc là không biết kể. Lâu ngày rồi họ cũng đánh mất lịch sử của mình. Một thế hệ cô đơn khủng khiếp.

Và hoang mang đến nỗi không biết nói gì về nỗi cô đơn ấy.


Nhiều khi muốn đi chết cho rồi, đời dài quá. Nhiều khi muốn sống lại lần nữa, và lần nữa, và lần nữa, vì chằng bao giờ sống xong. Đời lúc nào cũng lỡ dở.